Hiển thị các bài đăng có nhãn mo-da. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn mo-da. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 22 tháng 9, 2014

Truyền thuyết tượng quan âm bồ tát, tượng a di đà



Tượng a di đà và tượng quan âm bồ tát hay những khu lăng mộ đá đã xuất hiện trong rất nhiều ngôi chùa ngày nay

1.Truyền thuyết tượng quan âm bồ tát , tượng a di đà

Quán Âm Bồ Tát là danh hiệu của một vị Phật đáng lẽ đã chứng quả Phật, nhưng còn nguyện lẫn lộn ở cõi ta bà để cứu độ chúng sinh. Người ta cũng gọi Ngài là Quan Âm Phật, Quan Âm Như Lai, Quan Thế Âm, Quan Âm Nam Hải, Phổ Đà Phật Tổ, v.v...Thực ra trong kinh ĐẠI NHẬT và kinh BI HOA đức Bổn Sư Thích ca đã từng dạy rằng, đức Quan Âm Bồ Tát đời quá khứ đã thành Phật hiệu là chánh pháp Như Lai vào thuở lâu xa vô lượng kiếp về trước. Vì bi nguyện độ sanh mà Ngài thị hiện làm thân Bồ tát. Cũng trong kinh BI HOA, đức Phật luôn luôn gọi đức Quan Thế Âm Bồ Tát là "Thiện-nam-tử" tốt ! Vậy đức Quan Thế Âm Bồ Tát không thể nào là nữ nhân được.Ngày nay ta thường thấy những bức tượng quan âm bồ tát
Khi nói về đức phật a di đà, ngày xưa truyền thuyết còn nói Quan Thế Âm Bồ Tát đi mưa về gió đc ví như đi nhanh như xe toyota can tho  ạ :3

Đây là tên của một vị Phật được tôn thờ nhiều nhất trong Đại thừa. A-di-đà trụ trì cõi Cực lạc (tiếng Phạn: sukhāvatī) ở phương Tây. Phật A-di-đà được tôn thờ trong Tịnh độ tông tại Việt Nam, TQ, Nhật Bản và Tây Tạng, tượng trưng cho Từ bi và Trí tuệ.
Trong lịch sử đạo Phật, việc tôn xưng A-di-đà là một mốc phát triển quan trọng. Phép niệm A-di-đà là một cách tu dưỡng mới của Phật tử, không phải trải qua vô số kiếp. Đây là cách tu dưỡng dựa vào Tha lực, dựa vào đại nguyện của một vị Phật-một phép tu "nhanh chóng, dễ dàng" hơn chứ không chỉ dựa vào tự lực của chính mình. Đó là phép tu nhất tâm niệm 10 lần danh hiệu "Nam-mô A-di-đà Phật" lúc lâm chung để được sinh vào cõi Cực lạc. Để có thể đủ sức vững vàng niệm đủ 10 lần câu "Nam mô A Di Đà Phật" cận ngay lúc lâm chung thì lúc bình thường phải kiên trì niệm Phật thường xuyên.
Đến Ngũ Xã hôm nay, ta sẽ gặp một ngôi chùa ẩn mình dưới bóng đa cổ thụ. Đó là “Thần Quang tự”, ngôi chùa của phường đúc đồng, xây dựng từ thế kỷ 18. Chùa nhỏ nhưng lại có pho tượng đồng lớn vào loại nhất nước ta, một trong những đỉnh cao của thợ đồng Ngũ Xã.
Pho tượng A-di-đà này cao 3,95m, khoảng cách giữa hai đầu gối là 3,6m, chu vi tượng 11,6m, đặt trên một tòa sen có 96 cánh cũng bằng đồng cao 1,45m. Tính cả tượng và tòa sen làm đế, pho tượng có chiều cao 5,5m và nặng 11,6 tấn.

Tác giả của pho tượng lớn và mộ đá này là Nguyễn Phú Hiếu – người nặn khuôn mẫu - và Nguyễn Văn Tùy, thợ cả tổng chỉ huy công việc đúc tượng. Các nghệ nhân cho biết phải dùng đến 7 vạn kg đất sét và giấy bản để làm khuôn và cả phường tập trung vào đây những tay thợ tài hoa nhất. Công việc chuẩn bị phải mất 3 năm (1949-1952) để tiến hành đúc liền trong 2 giờ đồng hồ.

Thứ Hai, 15 tháng 9, 2014

Vùng mộ đá cổ bí ẩn ở Thanh Hóa



Theo lời kể, khoảng thế kỷ XVII, những người Thái đầu tiên đặt chân lên xã Trung Thành, huyện Quan Hóa (Thanh Hóa) để lập bản. Cứ cách vài quăng dao, lại thấy các dãy mộ đá được sắp xếp trật tự không biết từ bao giờ. Lựa chọn mảnh đất này làm nơi sinh sống, hẳn người xưa phải có lý do. Sự bí ẩn đó đã tồn tại mấy trăm năm nay nhưng chưa được lý giải.


Ám ảnh hổ
Trước đây, xã vùng cao Trung Thành chỉ là chòm dân cư tập trung sinh sống gần cuối dòng suối Quýt đổ ra sông Mã (bản Chiềng, xã Trung Thành ngày nay). Khi dân cư đông đúc hơn, các bản, chòm mở rộng theo dọc sông Mã và các dòng suối.
Sau đó, Trung Thành được chia tách thành ba xã Trung Thành, Trung Sơn và Thành Sơn – những nơi xa nhất của huyện vùng cao Quan Hóa ngày nay. Để đến được những xã này, phải đi qua xã Vạn Mai, thị trấn Co Lương, tỉnh Hòa Bình.
Với chiếc mũ vải đen, vành tròn cùng xe toyota can tho cụp vào trong, chiếc túi vải nâu đeo chéo người, đôi mắt sắc, nhanh, nước da căng từng lớp, cụ Phạm Bá Ngoằng (70 tuổi), ở bản Phai, xã Trung Thành tay ôm tay nắm chúng tôi mà mừng khi chúng tôi vượt hơn 100 km đường rừng tìm thăm cụ.
Được coi là một trong những già làng nhiều tuổi của vùng, nhâm nhi chén rượu sắn mời khách do chính con gái mình cất được, cụ Ngoằng kể: “Vùng đất nhìn ngang thấy núi, nhìn xuống thấy sông này có nhiều điều mà dân bản chưa lý giải được.
Từ hòn đá Han dưới dòng suối Quýt ở bản Chiềng; hòn đá bốn chân (ma ngao) đều được dân bản gìn giữ. Thời điểm bị giặc ngoại xâm chiếm đóng, nghe nói vùng đất rất phát, ai đến định cư cũng ấm no nên phương Bắc rất để ý. Giặc đã tìm cách đào đứt ngọn núi có dáng rồng cuộn thành ba mạch nhằm phá sự ổn định và niềm tin của dân trong vùng”.


Trong đêm ở rừng bản Phai, cụ Ngoằng kể, gia đình cụ đã bị hổ ăn thịt, làm chết 3 người: “Ngày trước nơi này thú dữ luôn rình rập khắp gầm nhà sàn. Gặp người là hổ vồ ăn thịt. Một buổi sáng, người con gái có vẻ đẹp mặn mà đang ngồi dưới chân nhà sàn chải tóc, bỗng từ đâu con hổ dữ nhảy đến vồ lấy rồi tha người con gái ấy chạy vào rừng sâu. Cả bản kéo nhau chạy theo vết chân hổ, nhưng chỉ tìm được một phần thi thể người xấu số”. Người con gái ấy chính là bà cô ruột của cụ Ngoằng.
Ông Phạm Bá Ngọc - Trưởng bản Phai kể: “Trước kia hổ cứ gặp người là ăn thịt. Phụ nữ thường phải dậy sớm xuống sàn lo qua khu lăng mộ đá để cơm nước nên thường bị hổ ăn thịt là vậy. Cả vùng, có tới hàng chục người đã bị hổ ăn thịt. Kỳ lạ là, hàng trăm khu mộ đá lớp lớp ở đây, nhưng không có ngôi mộ nào bị đào bới bởi thú rừng. Nhưng nếu là dân bản chết, hổ thường bới đào. Huyền bí về những ngôi mộ đá càng trở nên bí ẩn. Ở một vài khu mộ đá cổ ngày nay, đồng bào địa phương chôn cất người chết xen kẽ với mộ đá cổ”.
Chén nước lá rừng màu đỏ, vị chát làm dịu cơn nóng của chúng tôi giữa mùa hè ở xứ núi ven sông. Vùng đất từng có muông thú khắp nơi, giờ hoang vắng chẳng một tiếng chim đêm… Thú rừng mất dần khi con người xuất hiện. Những ngôi mộ đá cổ ở Trung Thành chưa từng được lý giải cũng đang mất dần cả hiện trạng và thông tin theo thời gian.


Bí ẩn mộ đá
Những ngôi mộ đá nằm rải rác trên nhiều vạt đồi của xã Trung Thành. Một người đàn ông chừng ngoài 50 tuổi nghe chúng tôi hỏi đường, nhìn lom lom: “Đi vào đó làm gì? Người lạ không vào được”. Vì xem đây là vùng đất thiêng, nên chẳng người dân nào trả lời với khách lạ là có khu mộ đá cổ.
Ở bản Phai hiện còn hai khu mộ đá, một dãy nằm trong vườn nhà anh Hà Minh Tâm, một dãy nằm ở ven sông Mã, phía cuối bản Phai thuộc khu vực suối Tàu.
Xung quanh mộ là những viên đá nhỏ, phần đầu mộ là tảng đá lớn, phần chân mộ là tảng đá nhỏ hơn. Theo một số người dân địa phương, đó là một trong những đặc trưng của phong tục chôn cất người Thái.

Thứ Ba, 5 tháng 8, 2014

Làm mộ đá, các mẫu mộ đẹp



Làng đá mỹ nghệ ninh vân Cơ sở đá mỹ nghệ Thiên Phú là một trong những cơ sở được hiệp hội làng nghề mộ đá mỹ đánh giá cao về sự sáng tạo, cải biến mẫu mã, hình dáng, kích thước hơp lí nhất. Khi nói đến các mẫu mộ đẹp thì vô cùng phong phú và đa rạng . Ví dụ: Mẫu mộ đá hai đao với những kích thước khác nhau thì những ngôi lăng mộ đá đều được giật cấp theo tỉ lệ thích hợp. Để làm mộ đá người thợ phải nắm rõ các cấp bậc của một ngôi mộ. Bắt đầu từ mặt móng lên là lớp đế lót, lớp tiếp theo bên trên lớp đế lót này là lớp đế sen lớp này đựơc trạm những cánh sen úp, lớp kế tiếp là lớp bưng, lớp này là nơi những người thợ trạm khắc những mẫu hoa văn cổ đại tùy theo tốn giáo và yêu cầu của khách hàng. Bên trên lớp bưng là nắp mộ phần này được làm khá đơn giản, đặt trên nắp oto toyota can tho mộ là bài vị, đặt ở phía trước lớp bài vị là hai cây cột tròn, hoặc vuông đươc đăt như hai chiếc cột chính của ngôi nhà đặt nối giữa những cây cột này là cửa võng hay còn đươc gọi là rèm cửa tao nên sự mêm mại nhưng không làm mát đi sự vững trãi của ngôi mộ này. Được đăt trên lớp bài vị là hai đao của mộ, đặt giữa hai mái đao là cổ đảng ở vị trí cao nhất là nụ sen họăc nậm rượu. Tât cả những chi tiết này kết hợp với nhau tạo nên một ngôi mộ đá vô cùng vững trãi.